Working together for birds and people
logo
 
 
 
Total visits: 4678
The Conservation of Key Wetland Sites in the Mekong Delta (Vietnamese)

 

[Report 13. Full report 3.1 MB. pdf format]

 

Tóm tắt

 

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản quan trọng của Việt Nam. Nhu cầu không ngừng tăng của con người đối với tài nguyên thiên nhiên cùng với sự phát triển nông nghiệp đã làm suy giảm nghiêm trọng diện tích các sinh cảnh tự nhiên và bán tự nhiên của vùng.

 

Lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chiếm vào khoảng một nửa tổng sản lượng của cả nước và đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Khai thác thủy sản cũng là nguồn tăng thu nhập ngoại tệ quan trọng. Sự tăng trưởng kinh tế như vậy luôn đồng nghĩa với cái giá phải trả về mặt môi sinh. Chỉ rất ít vùng sinh cảnh tự nhiên và bán tự nhiên còn được giữ lại ở đồng bằng sông Cửu Long chưa là đối tượng khai thác của con người, hầu hết các vùng khác đều đang phải chịu sự khai thác không bền vững.

 

Việc gìn giữ vai trò kinh tế quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào việc đảm bảo được các chức năng của hệ sinh thái, đến nay mặc dù hệ thống các khu bảo vệ đã được thiết lập nhưng chúng chưa thật sự tương xứng về quy mô cũng như không đủ phạm vi đại diện để bảo tồn tính đa dạng sinh học. Hơn thế nữa, hiện trạng đa dạng sinh học của đồng bằng sông Cửu Long rất ít được biết đến và cần phải được nghiên cứu nhiều hơn.

 

Từ đầu năm 1999, Chương trình BirdLife quốc tế tại Việt Nam và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tiến hành dự án Bảo tồn các vùng Đất ngập nước Quan trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long với mục đích chính là:

   1. Xác định, đánh giá và bảo tồn các các vùng đất ngập nước quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long.

 

Các mục tiêu cụ thể được đề ra bao gồm:

   1. Rà soát lại các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học đã có và đang được hoạch định ở đồng bằng sông Cửu Long;
   2. Xác định các vùng đất ngập nước quan trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học bằng cách sử dụng các loài chỉ thị và các tiêu chí Ramsar;
   3. Thực hiện bước đánh giá sơ bộ về hiện trạng sử dụng tài nguyên và các kế hoạch phát triển sắp tới tại mỗi vùng nghiên cứu;
   4. Đề xuất một chiến lược để bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng về đa dạng sinh học ở đồng bằng sông Cửu Long;
   5. Ủng hộ các giải pháp nguyên tắc bao gồm yêu cầu thành lập các khu bảo vệ và đề xuất các khu Ramsar với các cơ quan liên quan ở cấp Tỉnh và Nhà nước;
   6. Triển khai việc xây dựng một hoặc nhiều đề nghị dự án, hay đề xuất các khuyến nghị để tiến hành bảo tồn tại một hoặc nhiều điểm ưu tiên theo dự án xác định; và
   7. Góp phần nâng cao kỹ năng điều tra và đánh giá bảo tồn cho các cán bộ dự án.

 

Để thực hiện các mục tiêu trên, dự án đã được triển khai theo 3 giai đoạn (pha). Giai đoạn 1, xác định các vùng đất ngập nước bằng cách tổng quan các tài liệu có sẵn và tham khảo ý kiến của cán bộ ở các tỉnh và điều tra theo phương pháp đánh giá nhanh. Giai đoạn 2 bao gồm đánh giá chi tiết các sinh cảnh cũng như tiến hành điều tra khu hệ chim ở những vùng đáp ứng yêu cầu qua đánh giá nhanh. Trong giai đoạn này, các vùng được đánh giá thông qua 14 tiêu chí để xếp hạng theo tầm quan trọng về mặt đa dạng sinh học và mức độ khả thi cho các hoạt động bảo tồn tại đó. Ngoài ra, còn tiến hành xác định các mối đe dọa và các yêu cầu đối với công tác bảo tồn tại mỗi khu vực. Giai đoạn 3 tập trung nghiên cứu sâu một vài vùng có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là những vùng đáp ứng các tiêu chí của các công ước quốc tế, nhất là Công ước về Đất ngập nước (Ramsar).

 

Tổng số có 29 vùng đã được xác định và tiến hành nghiên cứu. Trong đó, 13 vùng là các vùng đất ngập nước ngọt trong đất liền, 9 vùng ở các vùng ven biển (nước mặn) và 7 sân chim tuy không phải là vùng đất ngập nước nhưng cung cấp nơi làm tổ và trú chân quan trọng cho các loài chim nước. Mười vùng được lựa chọn trên kết quả đánh giá nhanh và đã được điều tra chi tiết, 8 vùng trong số đó là các vùng đất ngập nước ngọt và hai vùng ở vùng ven biển. Các sân chim được nghiên cứu riêng.

 

Đã phát hiện được tổng số 194 loài chim, trong đó có 14 loài đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Một số loài đã tìm thấy ở vài nơi với số lượng cá thể chiếm hơn 1% số lượng quần thể toàn cầu, quần thể khu vực hay quần thể trên một đường bay của loài, trong đó có cò trắng Trung Quốc Egretta eulophotes là loài đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu và các quần thể gần bị đe dọa tuyệt chủng là choắt chân màng lớn Limnodromus semipalmatus, sếu cổ trụi Grus antigone, và giang sen Mycteria leucocephala. Đối với các nhóm động vật khác, chứng cớ về sự có mặt của nai Cervus unicolor ít nhất còn tìm thấy tại một trong số các vùng điều tra.

 

Trong các sinh cảnh được ghi nhận, các trảng cỏ hoặc đầm ngập nước theo mùa và rừng tràm trưởng thành bán tự nhiên là những nơi khu hệ chim có độ phong phú loài cao nhất. Đây đồng thời cũng là nơi có số lượng của các loài đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu nhiều hơn.

 

Dựa trên kết quả của hai giai đoạn điều tra chi tiết, 10 vùng đất ngập nước cần ưu tiên cho công tác bảo tồn đã được xác định và xếp hạng theo thứ tự ưu tiên như sau:

 

1    Các trảng cỏ ngập nước theo mùa ở vùng Đồng Hà Tiên
2    Vườn Quốc gia Tràm Chim
3    Khu BTTN U Minh Thượng
4    Khu BTTN Đất Mũi
5    Khu BTTN Vồ Dơi
6    Bãi Bồi
7    Tỉnh Đội, An Giang
8    Trà Sư
9    Láng Sen
10  Khu BTTN Lung Ngọc Hoàng (đang đề nghị)

 

Sáu vùng được xếp hạng cao nhất (từ 1 đến 6) đều đáp ứng một vài tiêu chí của Công ước về Đất ngập nước (Ramsar) đưa ra để định loại các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Hai vùng (Đất Mũi và Bãi Bồi) đồng thời cũng đáp ứng các tiêu chí để đề cử vào Mạng lưới Các vùng Chim di cư Ven biển Đông Á - Úc châu. Chúng tôi cũng lưu ý các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần đề xuất những vùng này với các tổ chức quốc tế có liên quan.

 

Vùng cần ưu tiên cao nhất cho bảo tồn tính đa dạng sinh học tại đồng bằng sông Cửu Long được xác định là Các trảng cỏ ngập nước theo mùa ở Đồng Hà Tiên. Vùng này có ý nghĩa đặc biệt về mặt đa dạng sinh học, vì đây là nơi cư trú của một số loài chim đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Đặc biệt chúng tôi đã ghi nhận sự có mặt của một đàn sếu cổ trụi với khoảng hơn 130 cá thể và một đôi cò quăm cánh xanh. Vùng này cũng là nơi có tính đa dạng thực vật cao, bao gồm các cấp độ của các quần xã thực vật ở nước lợ đến nước ngọt và từ đất axit đến đất phù xa bồi tụ.
 

Cần phải xây dựng ngay 2 khu bảo vệ ở vùng Đồng Hà Tiên vì vùng này đang bị đe dọa nghiêm trọng do việc cải tạo đồng cỏ thành đất nông nghiệp. Trong thời gian gần đây, các trảng cỏ vẫn được coi như đất "hoang hóa" và việc bảo tồn nó sẽ góp phần làm thay đổi quan điểm về kiểu sinh cảnh không thể thay thế này.

 

Ngoài việc hình thành 2 khu bảo vệ ở vùng Đồng Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, chúng tôi cũng đề nghị vùng Bãi Bồi ở tỉnh Cà Mau cần được công nhận là khu Bảo tồn Thiên nhiên. Thêm vào đó, ba vùng đã được công nhận trong hệ thống rừng đặc dụng cần được quyết định mở rộng hơn, đó là U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang), Vồ Dơi và Đất Mũi (tỉnh Cà Mau). Bốn vùng khác (Trà Sư và Lâm trường Tỉnh Đội, tỉnh An Giang; Láng Sen, tỉnh Long An và Lung Ngọc Hoàng, tỉnh Cần Thơ) chưa phù hợp với việc công bố vào hệ thống khu bảo vệ do diện tích quá bé và/hoặc do một số khó khăn về công tác quản lý cần phải vượt qua. Tuy nhiên, thiết lập các các khu bảo tồn thiên nhiên cấp tỉnh ở những vùng này sẽ là bước khởi đầu để cải thiện tầm quan trọng và tiềm năng bảo tồn cho vùng.

 

Đối với các sân chim, Sân chim Bạc Liêu, Sân chim Cà Mau, Sân chim Trà Cú và Chùa Hang là những nơi có số lượng chim rất cao bao gồm cả một số loài sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Tuy nhiên, sân chim có số lượng chim lớn nhất được tìm thấy lại là ở U Minh Thượng với khoảng hơn 5.000 cá thể trong đó có khoảng 9% quần thể Đông Nam Á của loài quắm đen nhỏ Plegadis falcinellus. Hiện tại, sân chim này chưa nằm trong Khu BTTN U Minh Thượng và chúng tôi đề nghị cần mở rộng diện tích khu BTTN bao trùm cả vùng chim quan trọng này.

 

Để đáp ứng các vấn đề bảo tồn ở đồng bằng sông Cửu Long, nhất thiết phải có ngay một chiến lược cho công tác bảo tồn tổng thể các vùng đất ngập nước. Chúng tôi đề nghị một chiến lược nhằm giải quyết 3 vấn đề chính sau:

 

1.  Thiết lập một hệ thống các khu bảo vệ đất ngập nước đáp ứng yêu cầu đại diện về mặt sinh cảnh và tiêu biểu về phạm vi tổng thể.

 

Đề nghị thiết lập thêm 3 khu BTTN mới và mở rộng diện tích của ba khu hiện đã có quyết định công nhận là khu BTTN, tăng tổng diện tích trong hệ thống khu bảo vệ ở đồng bằng sông Cửu Long thêm 45.561 ha, từ 22.509 ha lên 68,070 ha, như vậy diện tích được bảo vệ ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ tăng lên chiếm tới 1,7% diện tích tự nhiên của vùng.

 

2.  Cần có sự sửa đổi một số chính sách hoạch định nông nghiệp theo hướng có cân nhắc đến các giá trị về mặt đa dạng sinh học, kinh tế và xã hội của các vùng đất ngập nước.

 

Bao gồm các công việc: hình thành một chiến lược quốc gia về đất ngập nước, xác định một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý đất ngập nước và thực hiện những cam kết của Việt Nam trong các Công ước về Đa dạng Sinh học và Công ước Ramsar. Điều này đòi hỏi phải có quá trình đánh giá lại các chính sách về bố trí dân cư của Nhà nước nhằm đảm bảo việc thực hiện chính sách này mà vẫn duy trì được sự cân bằng sinh thái.

 

[Report 13. Full report 3.1 MB. pdf format]

 

 
 

 

 
 
  Jobs | Privacy Policy | Terms and Conditions

 Copyright © Birdlife International in Indochina